Bát ngát rừng đồi Nghệ An



(MBFP) - Ngoài nghề nông là nghề nuôi sống người dân huyện Thanh Chương, Yên Thành (Nghệ An) thì giờ đây một nghề khác đã trở thành hướng đi thoát nghèo cho nhiều người dân nơi đây, nghề rừng.

Được nghe nhiều người nói về rừng trồng của người dân Nghệ An đẹp lắm, nhưng cũng phải đến tháng 10 năm nay, chúng tôi mới có dịp ghé đến tham quan để kiểm chứng những gì đã nghe trong dịp đi cùng đoàn phúc kiểm dự án KfW4 (Dự án trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An).

Xe chúng tôi băng qua những con đường đất của Nghệ An trong mùa bão lũ trọng điểm hàng năm. Sau một tuần mưa lũ, sông Lam như thể hiện hết những sự dữ dằn của mình, trong cơn cuồng nộ nước sông dâng cuồn cuộn, mép nước mở rộng sang hai bên bờ như muốn nuốt chửng con đường chúng tôi đang đi, chiếc xe trở nên thật nhỏ bé trước sự dữ dội của tự nhiên.

Theo lời anh Phan Sỹ Ninh – Điều phối viên dự án KfW4 tỉnh Nghệ An, trước đây, nước lũ còn hoành hành ghê gớm hơn nhiều. Vào mùa lũ, những khu vực nó đi qua, những hộ dân sinh sống ven bờ sông chỉ còn nước là…chạy. Và anh cho biết, nó chỉ bớt dữ dằn hơn khi có rừng trồng của người dân vùng thượng nguồn và vùng đồi hai bên sông.

Với sự bố trí của các cán bộ dự án KfW4 địa phương đồng thời cũng là các kiểm lâm viên của huyện, đoàn chúng tôi tiến hành làm việc tại vùng trồng rừng của người dân 2 xã Thanh Xuân và Thanh Lâm, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

 

Đường lên địa bàn trồng rừng dự án của người dân xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương rợp bóng Keo

Với mục tiêu bảo vệ môi trường bền vững của dự án, gắn việc trồng rừng của người dân với việc giúp tăng cường hệ thống rừng phòng hộ trong thời gian dài, Ban quản lý dự án KfW4 của tỉnh đã phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương tiến hành triển khai cho người dân trồng rừng từ năm 2005.

Với mong muốn háo hức muốn được nhìn thấy rừng trồng của người dân nên dù trời mưa to, gió lớn cũng không thể ngăn bước chúng tôi. Trong màn mưa dày, màu xanh rừng trồng của người dân xã Thanh Xuân hiện lên bất tận dường như không có điểm dừng, chỉ tay ra bốn xung quanh anh Trương Đình Hòa – Điều phối viên dự án KfW4 huyện Thanh Chương cho biết, đó đều là rừng của người dân trồng.

 

 

Rừng Keo Tai Tượng của người dân cao quá đầu người nổi bật trên nền rừng tại xã Thanh Lâm, huyện Yên Thành

“Để có được màu xanh này, chúng tôi và người dân đã phải nỗ lực rất nhiều. Là vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất, mùa hè thì nắng hạn, cây chết cháy, mùa mưa thì mưa tầm tã, năm nào cũng có lũ, cản trở rất nhiều đến công tác trồng rừng. Chúng tôi phải thường xuyên vận động người dân triển khai trồng thay thế liên tục, đến giờ thì ổn rồi” – Anh Hòa nói. Và như để chứng minh cho điều đó, anh dẫn chúng tôi đi đến một vùng đồi lớn có nhiều thông chết cháy do mùa hanh khô năm nay gây ra, bên cạnh đó là những cây thông khác xanh tốt đã được trồng thay thế.

 
 
 

Rừng thông bị chết cháy do thời tiết khô hanh khắc nghiệt ngay lập tức được người dân trồng bổ sung, thay thế

Khi hỏi có bao giờ xảy ra tình trạng người dân xin rút khỏi dự án hay không? Anh Hòa vừa đi vừa diễn giải: “Có được thành quả như hiện nay cũng là do ý thức của người dân nơi đây rất tốt. Ngay từ đầu, cán bộ dự án địa phương chúng tôi quán triệt phải làm sao cho người dân hiểu rõ hiệu quả của dự án và tự giác với rừng trồng của mình. Vì vậy, dù cho đất có xấu, thời tiết có khắc nghiệt đi nữa, người dân vẫn hào hứng tham gia trồng cây dự án”.

“Mỗi hộ dân ở đây có khoảng 4ha trong đó có 2ha là khoanh nuôi tái sinh rừng và 2ha là trồng mới. Theo quy trình của dự án, nếu rừng trồng của người dân đạt yêu cầu, dự án sẽ có kế hoạch hỗ trợ tiền công lao động ban đầu, tiền phân bón. Tuy nhiên, trong 3 lần kiểm tra mà không đạt yêu cầu thì hộ dân đó buộc phải rút ra khỏi dự án. Nhưng từ khi đặt ra đến giờ, những tiêu chí rằng buộc đó chưa một lần được áp dụng chứ đừng nói đến việc người dân tự rút khỏi dự án” – Anh Hòa giải thích thêm.

 

Từng thảm rừng Keo Lá Chàm đã khép tán mọc san sát nhau của người dân trồng rừng huyện Thanh Chương

Trời vẫn trút mưa như không muốn ngừng, phải đợi đến hai hôm sau, đoàn tôi mới có thể tiếp tục lên đường đi sang huyện Yên Thành, một vựa lúa của vùng Nghệ An. Lúa ở đây nhiều đến mức có cảm tưởng toàn bộ người dân có lẽ đều theo nghề trồng lúa và nghề rừng khó mà có chỗ đứng ở đây. Nhưng lập luận đó của chúng tôi sớm mất hẳn khi đến với xã Kim Thành, huyện Yên Thành vì đa số người dân trong xã đều coi nghề rừng là nghề làm giàu, nghề nông chỉ là nghề phụ mà thôi.

Những gì chúng tôi thấy là hai cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau. Cảnh tượng những người dân trồng lúa đang gồng mình, ngụp lặn trong nước lụt để cứu từng sào lúa và cảnh tượng an nhàn của những người dân trồng rừng khi rừng của họ đã vào giai đoạn trưởng thành, cũng tại bởi lý do chỉ cần trông chờ vào những thứ thu được từ rừng họ đã đủ sống thoải mái theo lời một “lâm dân” mà chúng tôi được gặp.

Xe chở đoàn tôi đi đến chân đồi, muốn được trực tiếp nhìn thấy thành quả của người dân trồng rừng nơi đây, chúng tôi phải dựa vào đôi chân và lòng nhiệt tình của mình. Xóa đi ám ảnh về những cánh đồng lúa ngập trắng nước trên đường đi, chúng tôi tiến thẳng lên vùng trồng rừng dự án. Một cảm giác choáng ngợp giữa khung cảnh rừng xanh mướt, um tùm của Xoan, Keo, Lim, Lát bát ngát thuộc sở hữu của người dân trồng rừng cho dự án KfW4 đã dần xâm lấn tâm trí của chúng tôi.

Đường vào khu vực trồng rừng của người dân thôn Đồng Bảng, xã Kim Thành, huyện Yên Thành với sự thống trị của Xoan

Trời mưa nhẹ, cộng với sương mù hòa lẫn trong những tán cây rừng cao vút, xen lẫn tiếng rì rào của hàng trăm dòng thác như những con trăn ngoằn ngoèođổ từ trên núi cao xuống làm cho không gian thêm mờ ảo, khiến chúng tôi cảm thấy như đang ở xứ nào khác. Thật không uổng công cố gắng, những gì được thấy đã làm chúng tôi thực sự mãn nhãn.

Bỗng tiếng nện chân của một đàn bò dồn xuống đất rừng khiến chúng tôi trở về với thực tại. Khi nghe giới thiệu của các cán bộ đi cùng mới biết, nơi chúng tôi đang đứng, chiêm ngưỡng là cánh rừng của gia đình ông Phan Lê Đại, người dân tham gia trồng rừng cho dự án và đàn bò kia cũng thuộc sở hữu của ông.

Dừng lại nghỉ chân, chúng tôi có dịp trò chuyện với ông. Theo lời ông kể, hồi trước, ông không ở vùng này. Ông mới chỉ chuyển vào ở trong này khi tham gia dự án trồng rừng. Quay ngược lại thời gian khi ông chưa tham gia trồng rừng cho dự án, mặc dù ông là người lên khai phá vùng này từ rất sớm, được Nhà nước thực hiện chính sách giao đất, giao rừng. Là chủ của nhiều ha rừng nhưng từ đó đến trước lúc trồng cây dự án, công việc chính của ông vẫn là khai thác gỗ thuê cho người ta, chật vật kiếm từng đồng nuôi sống gia đình. Đất rừng của ông thì để trống trơn vì chẳng có vốn để mua cây giống. Và vì thế, cũng không bao giờ ông nghĩ đến việc được trồng rừng, dù biết đất nơi đây, nếu được trồng rừng thì cây sẽ là cơ hội thoát nghèo nhưng cũng đành lực bất tòng tâm nhìn đất bỏ trống mà xót xa.

Và rồi khi dự án KfW4 về vùng, ông có dịp tham gia trồng rừng cho dự án. Rừng Xoan mà chúng tôi đang đứng của ông cũng chỉ mới có từ năm 2009 khi ông chính thức tham gia dự án. Tận mắt nhìn, mới thấy được tâm huyết từ chủ nhân của nó. Mới trồng được hơn 2 năm mà chúng phát triển như những cây có tuổi thọ 4 đến 5 năm, những thân Xoan cao vút chọc thẳng lên trời, cao đến hơn ba mét, mọc san sát nhau, trải dài theo cánh tay của ông chỉ.


Rừng Xoan thuộc sở hữu của gia đình ông Phan Lê Đại trải dài tít tắp theo cánh tay ông ông chỉ

Khi được hỏi tại sao tham gia dự án ông lại quyết định trồng cây Xoan ở rừng của mình? Ông liền làm một phép tính đơn giản: “Xoan và Keo có khả năng sinh trưởng như nhau, sau khoảng 9 năm cho khai thác, 1 tấn keo (20 cây/ tấn) trừ đi chi phí cùng lắm cũng chỉ thu được 500 đến 600 ngàn. Trong khi đó, 1 tấn Xoan (3 cây/ tấn) sau 5 năm đã cho thu hoạch có thể mang lại số lợi nhuận tương đương. Chỉ tính sơ qua, nếu trồng Xoan, người trồng rừng như tôi có thể thu lợi gấp 7 lần các loại rừng khác. Đồng thời, việc chăm sóc lại phù hợp với số lao động 4 người nhà tôi có thể quán xuyến”.

“Trước đây, tôi phải phải vào tận trong rừng để trở từng yến gỗ cho lâm trường lấy đồng ra đồng vào nhưng giờ thì khác, tôi có thể tự tin chăm sóc rừng của chính mình”. Và cũng theo lời ông nói, thì từ khi tham gia dự án trồng rừng này cũng là lúc ông không còn phải lo lắng đến kế sinh nhai của gia đình, cũng là lúc ông thực hiện được ước mơ của đời mình, được sở hữu một lượng gỗ lớn như thế trên đất rừng ông cha đã khai phá, đến mức ông phải thốt lên: “Rừng của tôi được như thế này thật trong mơ tôi cũng không dám nghĩ tới”.

Khi rừng của ông đã trưởng thành, ông nghĩ ngay tới việc phát triển thêm đàn bò phụ giúp thêm cho kinh tế gia đình. “Giờ tôi chuyển hẳn vào ở trong này, để vừa có thể chăm sóc và phát triển đàn bò vừa tiện chăm lo cho diện tích rừng của mình” – ông chia sẻ thêm.

Được biết gia đình của ông Đại chỉ là một trong số rất nhiều những hộ tham gia trồng rừng hiệu quả trong vùng. Anh Nguyễn Ngọc Tới – Cán bộ hiện trường  dự án KfW4 xã Kim Thành, huyện Yên Thành phân tích, dự án đã chuẩn bị cho người dân những bước khởi động ban đầu rất quan trọng trong việc phát triển nghề rừng, đặc biệt là hỗ trợ kỹ thuật. Để trên tiền đề đó, khi người dân nắm được kỹ thuật rồi, họ có thể tự tin triển khai trồng rừng những năm tiếp theo. Hệ quả đầu tiên có thể thấy được đó là đất rừng của người dân sẽ không bao giờ bị bỏ trống nữa với lý do người dân sẽ có tiền khi bán đợt rừng đầu, với số tiền đó, người dân có thể tiếp tục mua cây giống, tiếp tục trồng thêm các vụ tiếp theo.

Đến nay, theo nhìn nhận có thể khẳng định rừng trồng ở đây đều cho kết quả rất tốt. Thậm chí, một số xã thuộc huyện có diện tích cây trồng lớn, cây được chăm sóc tốt, phát triển nhanh đã khép tán, thân gỗ to đến mức người dân đề nghị dự án cho họ được thực hiện kế tiếp mô hình trồng cây dưới tán. Để cây to trồng đợt đầu được khai thác sẽ có cây trồng dưới tán thay thế ngay, dân sẽ có rừng chăm sóc tiếp và đất không bị bỏ trống đảm bảo tính bền vững của dự án.

Lợi ích nhiều đường của mô hình trồng cây dưới tán đã được Ban quản lý dự án KfW4 Trung ương và các tỉnh tiếp thu, nghiên cứu đưa vào triển khai trên thực tế tại nhiều địa phương thuộc dự án từ năm 2011, nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của người dân trồng rừng.

Đoàn tôi tiếp tục lên đường đi sang xã Hùng Thành, huyện Yên Thành cách đó không xa, là xã có số lượng người dân tham gia trồng rừng lớn nhất trong huyện.

Đi sâu vào khoảng chừng 2 cây số đường rừng thuộc thôn Kim Thành, chúng tôi tạt vào chòi của nhà ông Lê Đình Tâm, hộ tham gia dự án trồng rừng lâu năm trong vùng vừa là để trú mưa, cũng là dịp để hỏi han về tình hình trồng rừng của gia đình ông. Gọi là chòi nhưng thực chất nó là một ngôi nhà được xây dựng kiên cố. Khi con cái ông lập gia đình thì ông cũng tiến hành xây cái chòi này để chăm sóc diện tích rừng của mình vừa hưởng thú vui núi rừng theo lời ông nói. Nhìn khuôn viên của ngôi nhà, có thể nhận thấy chủ nhân của nó cố tình sắp xếp theo mô hình vườn – ao – trồng rừng.


Những hàng Xoan thẳng tắp, cao vút minh chứng cho sự cố gắng và tâm huyết của người dân địa phương với rừng trồng

Trong cơn mưa tầm tã, chúng tôi đã có buổi nói chuyện thú vị và đầy cảm xúc khi nghe ông kể về quá khứ gắn bó với mảnh đất nơi đây, câu chuyện của những người đi mở đất. Với chất giọng hào sảng của người vùng núi ông bắt đầu kể, cũng giống như nhiều gia đình khác ở đây, gia đình ông từ thời cha mẹ ông theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước và một phần là do hoàn cảnh nghèo đói ở quê cũ mà lên vùng này khai phá từ rất sớm.

“Lúc đó tôi còn bé tí, đi theo bố mẹ mà cũng không biết là đi đâu. Chỉ nhớ lúc đó vùng này, cây dại còn um tùm, hổ beo còn nhiều lắm, cả vùng rộng lớn mà chỉ có mấy nóc nhà lèo tèo. Ban đầu, cả nhà cũng chỉ biết tìm củ khoai, củ ráy rồi làm củi đổi thóc gạo sống qua ngày. Nhân công ít, cứ phát cỏ rừng được chỗ này thì chỗ khác lại mọc cao hơn đầu người, nhiều lúc cũng phát nản, lại thêm cảnh sống trong cảnh rừng thiêng nước độc không tránh khỏi những bệnh tật từ trên trời rơi xuống, thật khổ cực trăm đường. Để có đất trồng rừng như ngày nay, hai đời nhà tôi đã phải vất vả khai phá, cải tạo” – Ông Tâm nhớ lại.

Thi thoảng ông lại dừng lại hít một hơi thuốc thật dài như để lấy đà. Miên man theo lời kể của ông, chúng tôi thấy thật đúng theo ý trong lời một câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên “Khi ta ở cũng là nơi đất ở”. Mảnh đất nơi đây thật sự đã hóa tâm hồn của ông. Lúc bắt tay vào khai phá, ông và cả gia đình ông không ai có thể ngờ mảnh đất này sẽ trở thành nơi ông sẽ gắn bó suốt quãng đời còn lại, là nơi con cháu ông có cơ hội phát triển mãi về sau.

“Khi có đất trồng rồi mọi việc cũng không hề dễ dàng, nhiều khi trời cũng không chiều lòng người, dù có bỏ công, bỏ sức ra thì kết quả thu được cũng bằng không như mấy vụ trồng dứa của nhà tôi vài năm trước đây thôi” – Giọng ông bỗng trầm xuống theo những mất mát, thua lỗ mà ông phải gánh chịu.

“Mấy năm trước, có dự án trồng dứa xuất khẩu về vùng này, cả vùng lao vào trồng dứa nguyên liệu cung cấp cho nhà máy, nhà tôi cũng làm theo, đầu tư toàn bộ tiền của vào, dùng đất rừng của nhà để trồng dứa. Được năm đầu thu hoạch còn khá, những năm sau, nhà máy phá sản đẩy cả vùng nguyên liệu chúng tôi vào cảnh lao đao. Đến mùa thu hoạch, dứa chín hàng loạt, có ngày nhà tôi đổ đi 3 đến 4 tấn dứa thối do không có nguồn thu mua. Tính lại trong mấy năm trồng dứa, cả nhà đầu tư đến gần 170 triệu trên 7 ha đất rừng, cuối cùng lỗ đến 50 triệu. Nhà cửa, trâu, bò lần lượt bỏ tôi ra đi theo…dứa” – ông bùi ngùi kể lại.

Tuy thế nhưng ông không nản chí, vẫn ấp ủ giấc mơ làm giàu từ rừng, với quyết tâm không bao giờ để đất của mình được nghỉ, ông luôn tìm cách xoay sở, bất chấp những khó khăn chồng chất do việc trồng dứa thua lỗ để lại. “Đến giờ tôi mới đúc kết ra được một kinh nghiệm xương máu: Đất rừng thì trồng rừng là chắc ăn hơn cả” – Ông khẳng định.

Lúc cả nhà đang trong cảnh cùng quẫn, thì ông nghe phong phanh có tin dự án trồng rừng do nguồn vốn của CHLB Đức tài trợ, hỗ trợ cả cây giống, phân bón và tiền thuê nhân công lao động ban đầu. Khi nắm được đất rừng của mình cũng nằm trong quy hoạch, ông lập tức đăng ký tham gia vì biết đó là lối thoát duy nhất cho đất rừng của mình.

Để đầu tư cho diện tích rừng trồng, dự án của cả đời mình, với phương châm lấy ngắn nuôi dài, ông tiến hành chăn nuôi trâu bò và trồng ngô, mía, lạc, vừng, quay vòng liên tục để lấy tiền sinh sống và lấy tiền thuê nhân công chăm sóc rừng.

Giờ thì toàn bộ diện tích rừng 12 ha của ông và của cả con trai, con rể ông đều dày đặc Lát, Thông, Xoan, Keo, cây trồng cho dự án. Nếu trước đây, kiếm chật vật, khá lắm một ngày cũng chỉ được 20.000 ngàn, thì giờ một ngày, chỉ riêng việc khai thác ong mật, làm chổi đót bán từ nguyên liệu có sẵn từ rừng của mình đã đủ chi phí sinh hoạt cho cả nhà ông. Cả khoảng rừng bát ngát của gia đình ông còn tạo công ăn việc làm cho 10 lao động, một năm 3 đợt, tiến hành chăm sóc rừng trong lúc nông nhàn với giá nhân công 100 ngàn/ người/ ngày.


Rừng cây phát triển xanh tốt khẳng định tính hợp lý của mô hình trên Keo dưới Xoan của gia đình ông Lê Đình Tâm (xã Hùng Thành, huyện Yên Thành)

Chúng tôi chia tay ông mà không giấu nổi sự khâm phục, khâm phục về một con người không chịu khuất phục khó khăn, thử thách, quyết tâm thực hiện giấc mơ làm giàu của đời mình trên mảnh đất máu thịt. Không quên tặng cho chúng tôi những tổ ong và ít hạt dẻ, sản vật mà ông thu lượm được trong rừng của mình với nụ cười hồn hậu, ông hẹn chúng tôi lại đến thăm ông vào một ngày gần nhất.

Anh Nguyễn Ngọc Ánh – Điều phối viên dự án KfW4 huyện Yên Thành cho biết, cái mà dự án làm được cho đến nay là làm thay đổi ý thức của người dân, vì dự án có thành công hay không được thể hiện phần lớn ở việc người dân sau khi hết dự án có tiếp tục tha thiết với rừng trồng của mình không, hay là việc họ chỉ tham gia theo phong trào để lấy tiền hỗ trợ. Mà người dân có tha thiết hay không lại phụ thuộc vào việc những biện pháp lâm sinh có làm cây trồng phát triển và sinh trưởng hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế hay không, đó là một vòng khép kín.

“Nếu không có dự án KfW4, những vùng đất mà các dự án khác không thực hiện được hay thực hiện không thành công vẫn chỉ là những vùng đất trống bỏ hoang lâu ngày. Hoặc nếu có, người dân cũng chỉ trồng cây tự phát, khi mùa mưa về đất xói mòn hết nên thu hoạch được chẳng được bao nhiêu. Đến khi dự án về đây, thì cũng là lần đầu tiên những mảnh đất rừng trong vùng được nghiên cứu, phân loại để lựa chọn trồng những loài cây thích hợp nhất” – Anh Ánh nhấn mạnh.


Màu xanh bát ngát…


… và một khoảnh rừng dự án KfW4 trong buổi chiều tà

Vùng tây Nghệ An vốn nổi tiếng với sự khô cằn của đất, nhưng trái với mảnh đất khô cằn kia là những gương mặt rạng ngời. Nơi đâu chúng tôi đi qua cũng là một không khí khẩn trương chăm sóc rừng của người dân. Trong suy nghĩ chúng tôi luôn giữ trọn niềm tin vào những người dân nơi đây, những con người tâm huyết với rừng, luôn coi rừng là cơ hội thoát nghèo của gia đình mình sẽ tiếp nối nhau làm cho rừng Nghệ An thêm bát ngát, xanh tươi.

Sơn Lâm

 

 

Các tin khác :
Thông báo
Lịch công tác
Video
Ảnh
Thư điện tử
Thông tin đấu thầu
Thông tin hữu ích
Liên kết
  • Đặt làm trang chủ
  • Email : webmaster@daln.gov.vn
  • Liên hệ quảng cáo : (04) 3728 6201
  • Đường dây nóng : (04) 3728 6189
BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN LÂM NGHIỆP
Tòa nhà 2, Khu Liên cơ, 16 Thụy Khuê - Tây Hồ - Hà Nội
Điện thoại/Fax : (04) 3728 6189 - (04) 3728 6190
E-mail: Tchc@daln.gov.vn